Sàn gỗ nhân tạo: KỸ THUẬT SẢN XUẤT GỖ NHÂN TẠO


KỸ THUẬT SẢN XUẤT GỖ NHÂN TẠO

(GH2000)

Tóm tắt :

Gỗ thiên nhiên : Cây gỗ có mặt khắp nơi trên bề mặt địa cầu, và gỗ khai thác từ nó đã từng chiếm vị trí quan trọng bậc nhất đối với xây dựng nhà ở, công trình dinh thự, đặc biệt là các công trình trung và cổ đại. Cho đến hiện nay, nó vẫn chiếm một vị trí lớn lao mà các loại vật liệu khác chưa hề thay thế nổi.

Tuy nhiên, cũng vì vậy mà cây gỗ được khai thác tràn lan, kể cả ở các rừng đầu nguồn, được xem như là quỹ oxigen và là vành đai trữ nước của địa cầu. Việc phá hoại các cánh rừng nhiệt đới được đánh giá là hành động tự sát của nhân loại, gây ra lụt lội và hạn hán ngày càng tiến tới mức độ nguy hiểm toàn cầu.
Việc tìm ra nguồn gỗ nhân tạo không chỉ là đáp ứng một lợi ích kinh tế lớn, mà nó còn là một biện pháp hiệu quả chống lâm tặc, cứu các cánh rừng nhiệt đới, cải thiện nền tảng khí hậu và môi trường, tạo một số lượng lớn công ăn việc làm và khả năng xuất khẩu...

I/. Vật liệu gỗ thiên nhiên :

1/. Nhược điểm của vật liệu gỗ thiên nhiên : 

a/. Cấu tạo và tính chất cơ lý không đồng nhất, thường thay đổi theo từng loại gỗ, từng cây và từng phần trên thân cây.

b/. Dễ hút và nhả hơi nước làm sản phẩm bị biến đổi thể tích, cong vênh, nứt tách.

c/. Dễ bị sâu nấm, mục mối phá hoại, dễ cháy.

d/. Có nhiều khuyết tật làm giảm khả năng chịu lực và gia công chế biến khó khăn.
(trích “Vật liệu xây dựng” ; Phùng Văn Lự – Phạm Duy Hữu – Phan Khắc Trí ; NXB Giáo Dục, 2004, trang 227)

2/. Thành phần của vật liệu gỗ thiên nhiên : 

Bỏ qua phân tích cấu tạo vi mô hay cấu tạo vĩ mô, loại gỗ lá kim hay lá rộng, thì gỗ vật liệu gỗ thiên nhiên bao gồm các thành phần chính sau đây :

a/. Sợi gỗ : Tạo bởi vỏ các tế bào gỗ, có thành phần chủ yếu là celluloz ( C6H10O5 ), là cơ cấu chịu lực chính của gỗ. Cấu trúc và mật độ của sợi gỗ quyết định tính chất cơ lý của gỗ nguyên liệu, và làm nên tính năng chủ yếu, giá trị sử dụng và giá trị thương phẩm phân biệt cho từng loại gỗ. 

b/. Keo gỗ : Là loại keo Lignin thiên nhiên gắn kết các sợi gỗ và các thành phần khác thành khối gỗ. Keo lignin này tan trong kiềm mạnh > pH 10 và bị phá hoại bởi acid < pH 3. 

c/. Hemicelluloz và albumin thực vật cùng với nhân tế bào thực vật. Đây là thành phần không nhỏ trong vài loại gỗ, cấu tạo bởi các nguyên tố C, H, O, N, S, và P. Một hay vài thành phần trong nó tạo ra bột gỗ nằm trong thân gỗ, làm thay đổi thể tích và quyết định khả năng biến dạng dưới lực nén hay xung tác cơ học.

“ Qua quan sát cấu trúc, gỗ thể hiện rõ là vật liệu không đồng nhất và không đẳng hướng, các thớ gỗ chỉ xếp theo một phương dọc, phân lớp rõ rệt theo vòng tuổi. Do vậy, tính chất của gỗ không giống nhau theo vị trí và theo phương của thớ.”
(trích “Vật liệu xây dựng” ; Phùng Văn Lự – Phạm Duy Hữu – Phan Khắc Trí ; NXB Giáo Dục, 2004, trang 230).

II/. Gỗ nhân tạo :

1/. Mục đích :

Trong ý đồ tìm ra vật liệu gỗ nhân tạo thay thế cho một bộ phận gỗ thiên nhiên, chúng tôi theo sát cơ chếphỏng sinh học. Điều này nhằm mục đích :

a/. Làm ra loại gỗ nhân tạo giống thiên nhiên trong việc phù hợp với các phương thức sử dụng gỗ truyền thống của con người. Qua đó, loại trừ dị ứng hay tố chất độc hại cho con người khi tiếp xúc với gỗ nhân tạo.

b/. Gỗ nhân tạo phải có sự thông dụng trong thao tác chế biến : cưa, bào, xẻ, đục, giũa, đóng đinh ... phù hợp với dụng cụ ngành mộc.

c/. Gỗ nhân tạo phải có những đặc tính cơ, lý, hoá cao, vượt hơn gỗ thiên nhiên để phù hợp với nhiều mục tiêu sử dụng khác nhau, bù đắp cho việc không thể phong phú về chủng loại như thiên nhiên được.

Gỗ nhân tạo, do các lý do trên mà phải ... giống gỗ thiên nhiên về cấu trúc như đã phân tích ở phần 2,II nói trên.

2/. Thành phần gỗ nhân tạo :

a/. Sợi gỗ : là loại sợi thiên nhiên rẻ tiền, chất lượng cao và có số lượng rất lớn. Đó là sợi bập dừa nước ở Nam bộ, sợi đay và sợi sống lá ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Nhất là sợi đay hiện nay không được sử dụng nhiều như trước, vì ngành dệt bao đay đã bị thất bại, có thể nói là bị “chết” trước bao PE. Sống lá và bập dừa nước thì vô thiên lủng và cũng không có ngành nào sử dụng cho hết. Nhất là bập dừa nước vẫn ngày ngày trôi hàng trăm tấn theo sông ra biển, kết thành hàng “dề” nhiều Km, gây ô nhiễm nặng nề trong khi nó chứa một lượng sợi chất lượng cao.

- “Vân” gỗ tự nhiên vừa là đặc thù tính năng, vừa là chỉ tiêu hình thức đặc biệt, mà chỉ duy nhất công nghệ gỗ nhân tạo GH2000 mới có thể tạo được tương như nguồn gỗ thiên nhiên.

b/. Keo : là một loại polime vô cơ từ thiên nhiên không tan trong nước, chịu acid và baz hơn hẳn Lignin. Loại keo này rẻ, dễ mua, dễ chế tạo và phong phú trên khắp nước.

c/. Bột gỗ : là phế liệu của một ngành công nghiệp khác có nguồn gốc cao su. Qua một chu trình công nghệ ngắn, nó biến tính và hoàn toàn phù hợp, gắn bền chắc vào các thành phần khác của gỗ nhân tạo. Ngoài ra, còn có một nguồn quan trọng khác là bột gáo dừa. Loại bột này có một khối lượng khổng lồ ở Nam Bộ nên hoàn toàn thế được bột cao su, do đó mà còn có thể đỡ bớt gánh nặng đầu tư.

3/. Ưu nhược điểm của vật liệu gỗ nhân tạo : 

***Gỗ nhân tạo có các ưu điểm chủ yếu sau đây :

a/. Cấu tạo và tính chất cơ lý đồng nhất và đẳng hướng, không có khuyết tật lớn, bảo đảm khả năng chịu lực và gia công chế biến dễ dàng.

b/. Không bị sâu nấm, mục mối phá hoại, chịu nhiệt độ cao và khó cháy. Ít hút ẩm nên khó bị biến đổi thể tích, cong vênh, nứt tách như gỗ thiên nhiên.

c/. Có thể chế tạo mọi kích cỡ, hình dạng ví dụ như có thể tạo tấm gỗ liền có kích cỡ rất lớn mà trong thiên nhiên không thể nào có được, chỉ trong một thời gian rất ngắn.

d/. Hình dạng, tính năng và vân gỗ giống hoàn toàn như gỗ tự nhiên.

e/. Sử dụng nguồn phế liệu khổng lồ làm nguyên liệu chính. Đây là lợi ích môi trường không thể chối cãi, và cũng là lý do gỗ nhân tạo với nhiều tính năng ưu việt lại ... rẻ đến mức không ngờ.

***Nhược điểm của gỗ nhân tạo :

a/. Không phong phú như thiên nhiên. Hiện nay ta chỉ có vài chục công thức chế tạo tương ứng với vài chục loại gỗ, trong khi thiên nhiên có đến ... vài chục nghìn chủng loại. Điều này có thể khắc phục được sau nhiều năm sản xuất theo công nghệ gỗ nhân tạo.

b/. Còn lệ thuộc vào nguồn sợi thiên nhiên. Do đó cần phối hợp với ngành trồng trọt, và có thể tìm nguồn sợi khác ổn định hơn trong tương lai gần.

III/. Kỹ thuật sản xuất gỗ nhân tạo : 

***Tóm lược, kỹ thuật sản xuất gỗ nhân tạo đi theo 06 bước chính: 

1/. Thu gom và xử lý sợi : Là bước tốn nhiều thì giờ và nhân lực, cần phải quan tâm. Tuỳ theo từng loại sợi mà có cách xử lý khác nhau chút ít. Chủ yếu bước này có 03 phân đoạn sau :

a/. Thu gom nguồn sợi không cần phân loại.

b/. Cán tách làm cho các thớ sợi rời nhau và tách bớt nước.

c/. Đánh tơi và cắt ngắn sợi theo yêu cầu kỹ thuật.

2/. Trộn tẩm keo A ( dạng bột ) của polime vô cơ và cao su cắt nhuyễn ( bằng máy cắt cao tốc 24 dao ) vào sợi theo công thức cho sắn bằng máy trộn loại cyclo.

3/. Chuẩn bị khuôn : khuôn là những tấm thép dầy có các vách khuôn bằng gỗ hay thép, có gông để giữ hình dạng sản phẩm. 

4/. Trộn tẩm keo B của polime vô cơ ( dạng lỏng ) vào sợi đã chuẩn bị ở phần (2).

5/. Trải phối liệu vào khuôn bằng công cụ trải rulô chuyên dùng.

6/. Tháo khuôn sau 6 đến 12 giờ. Sau đó hong trong 12 đến 18 giờ hay hơn, để sản phẩm tự sấy khô bằng năng lượng nhiệt phân tử và đạt đến độ cứng cần thiết.

***Kỹ thuật này có các ưu điểm rất lớn sau đây :

1/. Không nén ép, không dùng năng lượng nhiệt cấp từ bên ngoài mà sử dụng năng lượng phân tử của thành phần polime vô cơ.

2/. Đơn giản, tường minh, phù hợp với mọi trình độ công nghiệp từ thủ công đến bán tự động hay tự động hoá.

3/. Không có sức căng quá lớn về mặt bằng do khâu sản xuất chính có thể tổ chức chồng khuôn nhiều tầng, lợi dụng được chiều cao không gian nhà xưởng.

4/. Không có phế liệu, chất thải độc hại.


5/. Hiệu quả kinh tế : (chỉ tính cho SX gỗ nhân tạo tương đương gỗ nhóm II mà thôi)
[tien trinh ky thuat]


a/. Hiệu quả đầu tư tăng luỹ tiến : 

Hiệu quả đầu tư tăng nhiều lần theo mức độ tăng công suất và thời gian sản xuất. Vì một loạt các thiết bị sử dụng trong quy trình nói trên đang có công suất cao hơn công suất tính toán sau đây nên nhiều hạng mục đầu tư máy móc có thể bớt đi khi tăng công suất thiết kế của dây chuyền sản xuất lên mà vẫn đồng bộ với công suất thiết kế mới.

b/. Cơ sở tính toán :

- Mức lương trung bình của công nhân lực cơ bản là 1.530.000 ĐVN / tháng.

- Mức lương trung bình của nhân công thời vụ là 800.000 ĐVN / tháng.

- Khấu hao tài sản hữu hình và vô hình là 10 % / năm (x 2.3000.000.000 ĐVN).

- Giá cả thị trường đối với gỗ nhóm II trung bình 7.250.000 ĐVN (như Sao, Sến ... – số liệu cung cấp : CTY TNHH Nghi Gia, Nhị Thành, Thủ Thừa, Long An). Ở đây ta chỉ tính mức giá cạnh tranh 80% so với gỗ thiên nhiên cùng chất lượng là 5.800.000 ĐVN / m3.

- Chi phí SX chính cho 1m3 gỗ nhân tạo là 1.840.000 ĐVN / m3

- Chi phí phục vụ SX – Quản lý và quảng cáo : 154.000 VNĐ / m3

c/. Hiệu quả sản xuất kinh doanh / tháng . (xem hình)

Ghi chú : Một bảng tính khác cho sản xuất gỗ nhân tạo nhóm I và gỗ giả DANH MỘC, có tỷ lệ lợi nhuận lên tới 228,25 %. Ta có thể dễ dàng tính toán khi cập nhật giá gỗ trên thị trường lâm sản. Trong khi chất lượng gỗ và giá gỗ tăng lên rất cao theo “nhóm”, thì quy trình SX gỗ nhân tạo lại chỉ đòi hỏi tăng đầu tư và chi phí SX hạn chế.

IV/. Thế mạnh kinh tế – kỹ thuật của công nghệ gỗ nhân tạo : 

Loại trừ những yếu tố thuần tuý xã hội, công nghệ gỗ nhân tạo có những thế mạnh sau đây:

1/. Nguyên liệu hầu như vô tận với giá cả rất rẻ vì là phế liệu công nghiệp. Trong điều kiện cho phép, sẽ được cung cấp không những không mất tiền mà còn được trả một khoản tiền giải phóng mặt bằng. Đây là một thông lệ mang tính quốc tế đối với việc xử lý vấn nạn phế liệu. 

2/. Quá trình xử lý rất ngắn và đơn giản trên cơ sở kỹ thuật cao của công nghệ viba. Điều này làm tránh được sự mất mát và hao mòn vô hình của công nghệ, giảm giá thành và nâng cao năng suất thực tế của đơn vị sản xuất gỗ nhân tạo trong không gian nhỏ hẹp hơn nhiều so với nhu cầu mặt bằng của công nghệ sản xuất gỗ nhân tạo kiểu cổ điển. Khả năng rò rỉ công nghệ là bằng không.

3/. Nguyên liệu kết hợp của công nghệ gỗ nhân tạo là một loại nguyên liệu đang không được sử dụng trong bất cứ ngành nào ở VN và trên thế giới, mỗi ngày đổ ra biển hàng trăm tấn làm phiền toái các chân vịt tàu bè, kết thành “dề” hàng chục dặm ven bờ biển. Việc sử dụng được bập dừa là sử dụng được nguồn sợi celluloz rất lớn đang bị bỏ phí, cải thiện môi trường biển cận duyên hải VN.

4/. Gỗ nhân tạo chịu được một biên độ biến dạng lớn do ứng lực nội tại nhỏ, nên là vật liệu xây dựng lý tưởng cho nhà ở, công trình nhà xưởng chịu gió, chịu dòng nước chảy hay rung động thường xuyên.

5/. Công trình xây dựng bằng công nghệ gỗ nhân tạo dễ dàng thay đổi cấu trúc nội tại hay kiểu dáng, do gỗ nhân tạo có thể cưa cắt như vật liệu gỗ bằng các phương tiện thông thường của nghề mộc, nề thông dụng. Từ đó, việc lắp ghép rất dễ dàng bằng keo dán công nghệ hay vặn vít, đóng đinh, siết bu-loong, hoặc ghép mộng cổ điển. Keo dán công nghệ truyền thống nấu bằng gỉ đường, da trâu, nước vôi và lòng trắng trứng gà hoàn toàn sử dụng được trong lắp ghép gỗ nhân tạo. 

6/. Gỗ nhân tạo có thể sản xuất ở mọi kiểu dáng, mọi hình thức và qui mô vật liệu nên cũng dễ dàng sản xuất với độ dày 2 cm, tạo tấm lợp thay thế tôn hay fibro – amiăng, vừa mát mẻ do cách nhiệt tốt, vừa an toàn trong việc hứng nước mưa cho ăn uống, sinh hoạt, vẫn là một thói quen và là nguồn cung cấp nước ăn uống không thiếu được ở vùng ĐBSCL và nhiều nơi khác trên cả nước.

7/. Vật liệu gỗ nhân tạo không sợ ngập nước, kể cả nước biển, lại chịu nén với ứng lực cao nên còn có thể dùng để trải đường, lát sàn nền, làm gạch “con sâu” thay cho bê tông, bê tông nhựa vốn không chịu đựng được nước ngập. Những con đường bê tông nhựa bị hư hại nặng nề sau mùa nước ngập vẫn là ác mộng của nông thôn vùng nước lũ sẽ được cải thiện.

8/. Giá thành của gỗ nhân tạo, qua các thuận lợi kinh tế – kỹ thuật nói trên, sẽ thấp hơn so với bất cứ công nghệ vật liệu nào khác trên thế giới, đáp ứng được một mảng nhu cầu rất lớn của VN, hấp dẫn hơn bất cứ hướng đầu tư công nghệ xây dựng nào. Mãi lực và khả năng cạnh tranh của gỗ nhân tạo là không thể lường trước được.
( Giá thành khoảng 30% - 40 % so với gỗ thiên nhiên cùng loại ).

V/. Thay lời kết luận :

Đất nước ta đang đứng trước nguy cơ mất cân bằng sinh thái, hiểm hoạ môi trường và sức căng phát triển. Việc xuất hiện công nghệ gỗ nhân tạo góp phần trong cuộc đấu tranh một mất một còn để bảo vệ an toàn sinh thái, giữ gìn môi trường sống và cải thiện kinh tế, tạo dựng lại những cánh rừng nhiệt đới.

Không dừng lại ở đó, với tính năng ưu việt và giá thành hợp lý, gỗ nhân tạo chắc chắn có chỗ đứng rất cao trong ngành chế tạo vật liệu xây dựng khu vực và thế giới. Nó đem lại việc làm, lợi nhuận công nghiệp và khả năng xuất khẩu.


CÁC TIN TỨC KHÁC


Hỗ trợ trực tuyến
Ms Diễm Hương


Mss.Mai Thúy

Mss. Nhi

Mr Dũng

Cty TNHH THƯƠNG MẠI ĐẦU TƯ THIÊN ÂN ÂN

Trụ sở chính: 3/1 Tổ 1, Bình Hòa 2, Tân Phước Khánh, Tân Uyên, Bình Dương

Văn phòng giao dịch: 1/4C Hẽm 496, Dương Quảng Hàm , Phường 6, Quận Gò Vấp, Tp. HCM

Tel: (08) 22 53 27 83 - Fax: (08) 22 53 27 83 - Mst: 3702191569

Hot line: 0912 85 55 30 - Email: gonhantao.taa@gmail.com

Copyright © 20013 - 2015 Thiên Ân Ân Investment Trading Co. Ltd Ltd

+0912 85 55 30